|
|
Tôi không dám so sánh kỷ luật
chay tịnh của Kitô giáo với các tôn giáo khác, bởi v́ không biết có nên dừng lại
ở khía cạnh lư thuyết hay cần phải kiểm chứng cả phương diện thực hành nữa. Thực
ra, khi đọc Phúc âm, chúng ta đă thấy ngay từ thời của Chúa Giêsu, đă có người
nêu vấn nạn rồi, bởi v́ xem ra các môn đệ của Ngài ăn chơi, đang khi các môn đệ
của ông Gioan th́ ăn chay. Chúng ta hăy đọc lại đoạn sách Tin mừng thánh Marcô,
chương 2 câu 18-20: “Bấy giờ các môn đệ ông Gioan và các người Pharisêu đang ăn
chay; có người đến hỏi đức Giêsu: tại sao các môn đệ ông Gioan và các môn đệ
người Pharisêu ăn chay, mà các môn đệ ông lại không ăn chay?” Đức Giêsu trả lời
như sau:
“Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể ăn chay khi chàng rể c̣n ở với họ? Bao
lâu chàng rể c̣n ở với họ, họ không thể ăn chay được, nhưng khi tới ngày chàng
rể bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay trong ngày đó”. Qua câu nói vừa rồi, ta
thấy Đức Giêsu đi xa hơn các ngôn sứ một bước. Thực vậy, trong Cựu ước, các ngôn
sứ (tựa như ông Isaia, ở chương 58) đă đặt việc ăn chay trong bối cảnh của tất
cả đời sống luân lư, nghĩa là không chỉ kiêng ăn uống mà c̣n phải kiêng phạm
tội, kiêng xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân. Chúng ta đă nghe đoạn văn này
trong Thánh lễ ngày thứ 6 và thứ 7 đầu mùa Chay. Chúa Giêsu th́ mở thêm một
chiều kích khác, chiều kích huyền
bí của việc ăn chay: việc ăn chay
mang một ư nghĩa tang chế bởi v́ mất đi một người yêu. Chính v́ thế mà trong mùa
Chay, Giáo luật buộc ăn chay vào hai ngày thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh.
Việc ăn chay vào thứ tư lễ tro mang tính cách sám hối đền tội; c̣n việc ăn chay
thứ 6 tuần thánh th́ mang màu sắc tang chế.
Giáo luật
chỉ buộc ăn chay mỗi năm hai ngày th́ đâu thấm thía ǵ, so sánh với nhiều tôn
giáo ở Việt Nam buộc ăn chay mỗi tháng 2 lần, vào mồng 1 và ngày rằm.
Thiết tưởng nên phân biệt: một bên là luật buộc, một bên là khuyến khích. Tôi
không dám quyết chắc rằng ở Việt Nam có tôn giáo nào buộc phải ăn chay hay
không, hoặc là chỉ khuyến khích mà thôi. Trong lịch sử Kitô giáo, th́ ta thấy có
sự phân biệt này, tuy trải qua thời gian, đă có sự tiến triển trong cả hai khía
cạnh.
Vào thời Chúa Giêsu tại thế, th́ các môn đệ
không ăn chay. Từ hồi nào th́ các Kitô hữu bắt đầu ăn chay?
Như chị đă biết, những tài liệu về các thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo không được
phong phú cho lắm. Dù sao, chúng ta đừng nên quên rằng các tín hữu đă giữ ấn
tượng sâu đậm về việc Chúa Giêsu ăn chay 40 ngày vào lúc khai mạc sứ vụ, một
điều mà Cựu ước cũng đă ghi nhận nơi hai vị đại ngôn sứ Môsê và Êlia. Sách Tông
đồ công vụ cũng thuật lại rằng thánh Phaolô đă ăn chay 3 ngày sau khi trở lại
(chương 9, câu 9), và khi lănh sứ mạng làm tông đồ dân ngoại (chương 13 câu
2-3). Những cuộc ăn chay này xem ra mang tính cách huyền nhiệm, nghĩa là chuẩn
bị để gặp gỡ Chúa, chứ không mang tính cách đền tội hoặc tang tóc. Từ thế kỷ II
và III trở đi th́ có nhiều tài liệu cho biết các tín hữu giữ chay vào hai ngày
thứ 6 và thứ 7 tuần thánh, như là dấu hiệu tang tóc. Hơn thế nữa, thánh Irênê,
trong thư gửi cho giáo hoàng Victor, cho biết rằng các tín hữu ở bên Đông phương
giữ chay suốt tuần thánh. Sang thế kỷ IV, th́ thấy nhiều giáo phụ bên Tây và bên
Đông, nói đến tục lệ giữ chay suốt 40 ngày.
Và tục lệ ấy kéo dài cho đến ngày nay, phải
không?
Không hoàn toàn đúng như vậy. Một đàng, ngày nay lịch phụng vụ bắt đầu mùa Chay
từ thứ tư lễ tro, nghĩa là 46 ngày chứ không phải 40 ngày. Lư do là tại v́ một
tục lệ khá cổ ngưng giữ chay vào các ngày Chúa nhật, do đó phải tính trội thêm 6
ngày cho đủ số 40. Tuy nhiên, sự khác biệt quan trọng hơn nữa là ở chỗ nội dung
việc giữ chay. Chắc chị biết những quy định của giáo luật hiện hành về việc giữ
chay chứ?
Trong các
ngày giữ chay, th́ chỉ được ăn no một bữa thôi.
Tạm chấp nhận như vậy đi. Cần nói thêm rằng giáo luật chỉ ấn định phải giữ chay
2 ngày, đó là thứ tư lễ tro và thứ sáu tuần thánh. Thời xưa, các tín hữu phải
giữ chay 40 ngày, chứ không phải chỉ có 2 ngày mà thôi. Và c̣n một sự khác biệt
quan trọng nữa, đó là ngày chay th́ không được ăn uống ǵ hết!
Như vậy là tuyệt thực 40 ngày hay sao?
Tôi xin lặp lại, vào thời xưa, trong suốt 40 ngày, các tín hữu không được ăn
uống ǵ hết. Nhưng đó không phải là tuyệt thực. Trong suốt ngày, họ không được
ăn uống, nhưng khi mặt trời lặn (nghĩa là hết ngày, và đêm về) th́ họ được phép
ăn một bữa.
Cũng như các
tín đồ Hồi giáo trong mùa Radmadan, ban ngày th́ ăn chay nhưng ban đêm th́ đánh
chén, phải không?
Tôi không biết luật của Hồi giáo đă quy định thế nào về việc giữ chay, nhưng các
Kitô hữu cổ thời kèm theo việc giữ chay với việc kiêng thịt, kiêng rượu, kiêng
đồ béo. V́ thế khó mà tưởng tượng được rằng họ được phép đánh chén sau khi mặt
trời lặn!
Như vậy th́ các tín hữu thời xưa ăn chay
nghiêm túc, c̣n ngày nay th́ chúng ta chỉ ăn chơi. Từ hồi nào có sự chuyển hướng
như vậy?
Theo các sử gia, sự chuyển hướng xảy ra vào thời Trung cổ, vào lúc mà ḷng nhiệt
thành bắt đầu suy giảm, đồng thời óc vụ luật bắt đầu len lỏi vào đời sống đạo.
Vào các thế kỷ đầu tiên, khi các tín hữu giữ chay vào thứ 6 tuần thánh, th́ việc
chay tịnh mang tính cách huyền nhiệm và phụng vụ, theo nghĩa là các tín hữu dành
hôm đó vào việc cầu nguyện và cử hành phụng vụ. Đến khi mùa Chay kéo dài ra 40
ngày, th́ dĩ nhiên là không thể nào ngồi trong nhà thờ suốt trong thời gian đó.
C̣n bao nhiêu công việc khác phải làm nữa chứ, và nếu bụng đói th́ làm sao cuốc
đất được? Từ đó, người ta t́m cách nào giải thích luật theo nghĩa co dăn. Như đă
nói trên đây, thời xưa, các tín hữu không được ăn uống ǵ trong suốt ngày giữ
chay. Việc chấm dứt ngày chay không được đánh dấu bằng việc mặt trời lặn, nhưng
là với Kinh Chiều. Để tôn trọng tục lệ cổ, người ta đọc Kinh Chiều liền sau giờ
Chín (nghĩa là 3 giờ chiều), và từ thế kỷ XIV th́ đọc kinh trùng với bữa ăn
trưa! Ngoài ra, dựa theo chứng tích của thánh Tôma Aquinô, người ta biết rằng
cho đến thế kỷ XIII, việc giữ chay bao trùm luôn cả việc kiêng uống (chứ không
phải chỉ kiêng ăn); thánh Tôma th́ nới rộng hơn một chút, khi cho rằng việc uống
nước không phá chay (II-II, q.147, a.6).
Như vậy, thời xưa, khi giữ chay th́ chỉ
được ăn một bữa, và cùng lắm chỉ được phép uống tí nước cho đỡ khát. Từ hồi nào
được ăn thêm bữa phụ?
Theo các sử gia, tục ăn thêm bữa phụ bắt nguồn từ các đan viện. Nên biết là luật
Giáo hội thời xưa chỉ buộc giữ chay trong mùa Chay (nghĩa là 40 ngày trước lễ
Phục sinh), c̣n trong các Ḍng tu, th́ ngoài luật phải kiêng thịt suốt đời, họ
c̣n phải giữ chay từ lễ suy tôn Thánh giá (14 tháng 9) cho đến lễ Phục sinh năm
sau (nghĩa là hơn kém 7 tháng). Xét v́ các đan sĩ phải làm việc đồng áng chứ
không chỉ ngồi trong nhà thờ đọc kinh, cho nên họ được phép uống một ly rượu vào
ban tối, sau khi nghe đọc sáchCollationes của
Cassiano. Dần dần, bên cạnh ly rượu c̣n thêm tí bánh. Từ đó, bữa lót ḷng được
gọi là “collations”. (Ngày nay trong tiếng Ư, bữa điểm tâm được gọi là colazione).
Từ thế kỷ XIV, các giáo dân cũng được phép dùng bữa lót ḷng vào những ngày giữ
chay. Thế rồi từ chỗ điểm tâm lót ḷng, kỷ luật giữ chay được nới rộng dần dần
cho đến kỷ luật hiện hành.
Tóm lại, khi
ôn lại lịch sử, ta có thể kết luận rằng kỷ luật khổ chế đă sa sút: từ chỗ ăn
chay nghiêm ngặt vào các thế kỷ đầu, sang đến chỗ lỏng lẻo đến nỗi chỉ c̣n là ăn
chơi vào thời cận đại, có đúng như vậy không?
Cần phải phân biệt hai khía cạnh: một bên là kỷ luật, một bên là tinh thần. Xét
về kỷ luật, th́ khi so sánh với các thế kỷ đầu tiên, quả thật việc ăn chay ngày
nay chỉ c̣n là chuyện ăn chơi. Tuy nhiên, nếu xét về mặt tinh thần, th́ việc phê
b́nh đối chiếu thật không đơn giản. Việc giữ chay chỉ là một phương tiện khổ chế
đền tội cũng như là một phương tiện bày tỏ ư chí cải hoán. Từ thời các giáo phụ,
Giáo hội không hề tách rời việc ăn chay với các phương tiện khác nữa để đạt đến
cùng một mục tiêu, đó là: sự cầu nguyện, thực hành nhân đức, đặc biệt là đức bác
ái. V́ thế để đánh giá tŕnh độ đạo đức của một cá nhân hay một thời đại, chúng
ta không thể chỉ đo lường qua mức độ nghiêm khắc của kỷ luật ăn chay, nhưng c̣n
phải đối chiếu với việc thực hành các công tác từ thiện bác ái, các hành vi tự
kiềm chế tính kiêu ngạo ích kỷ, cũng như thái độ từ tốn trong cách cư xử với
Thiên Chúa và tha nhân nữa. Dù sao, trong vấn đề này chúng ta cần dung hoà cả
hai khía cạnh: kỷ luật và tinh thần. Kỷ luật nghiêm khắc mà không có tinh thần
th́ dễ rơi vào thái độ bôi bác giả h́nh. Tinh thần mà không có kỷ luật th́ có
nguy cơ tan biến ra khói!
Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.,
daminhvn.net